Tạp chí Xưa và Nay
Toà soạn:
Tel/Fax: 04.38256588
Email: tapchixuavanay@yahoo.com
VP đại diện phía Nam: 181 Đề Thám, Q. I, TP.Hồ Chí Minh
Tel: 08.38385117-Fax: 08.38385126
Email: xuanay@hcm.fpt.vn
Chủ nhiệm: Phạm Mai Hùng
TBT: Dương Trung Quốc
P.TBT: Đào Hùng, Nguyễn Hạnh



Tìm kiếm


 


  Liên kết website


  Thông tin website
² Ngày 26/04/2017
² Số lượt truy cập:477227
  ² Đang online: 2
 

Quảng cáo


Đại hội VI

Báo cáo của BCHTW khóa V tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội KHLSVN
Cập nhật: 07/11/2010 20:39
  

Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Hội KHLSVN ngày 16 - 6 - 2005 và kết quả tổ chức thực hiện, tôi xin được thay mặt Ban Chấp hành trung ương Hội, trình bày Báo cáo tổng kết hoạt động trong nhiệm kỳ V (2005-2010) cùng kiểm điểm của Ban Chấp hành và phương hướng hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ VI. 

 

 

 
GS.NGND Phan Huy Lê đọc Báo cáo. Ảnh: Nguyễn Hữu Bảo

 

 

I. HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TRONG NHIỆM KỲ V (2005-2010)

1. Phát triển và củng cố tổ chức của Hội

Trong 5 năm của nhiệm kỳ V, Hội KHLS VN tiếp tục phát triển về mặt tổ chức với sự thành lập 9 Hội khoa học lịch sử các tỉnh: Bình Dương (24/12/2005), Nam Định (14/5/2006), Ninh Bình (2007), Sơn La (13/3/2008), Sóc Trăng (15/2/2009), Nghệ An (16/8/2009), Hoà Bình (9/9/2009), Vĩnh Phúc (13/11/2009), Yên Bái (25/6/2005). Một số tổ chức Hội đã hình thành ban vận động và đang xúc tiến thành lập như: Cà Mau, Hưng Yên, Lào Cai, Bắc Ninh... Hầu hết các hội đều phát triển thêm về tổ chức chi hội và số lượng hội viên trong nhiệm kỳ qua.

Theo Điều lệ, trong thời gian qua, một số Hội đã tổ chức đại hội, bầu lại Ban Chấp hành và đưa ra chương trình hoạt động trong nhiệm kỳ mới gắn liền với yêu cầu của địa phương như Hội KHLS Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Tháp, Thừa Thiên - Huế, Hội Giáo dục lịch sử...

Cho đến nay, hệ thống tổ chức của Hội KHLS VN gồm 51 hội/chi hội thành viên. Trong đó có 28 hội cấp tỉnh, thành phố, 4 hội chuyên ngành (Hội Giáo dục Lịch sử, Hội lịch sử công an nhân dân, Hội sưu tầm, nghiên cứu gốm và cổ vật Thăng Long, Chi hội lịch sử Trung ương Đoàn), 19 hội ở các cơ quan, bộ, ngành và các trường Đại học. Tổng số hội viên cho đến nay là trên 3.500 người, trong đó số hội viên được phát thẻ là 2.777 hội viên.

Văn phòng TƯ Hội trong nhiệm kỳ qua đã được kiện toàn, giúp việc cho Ban Thường vụ và là đầu mối quan hệ giữa TƯ Hội và các hội/chi hội thành viên cũng như quan hệ đối ngoại với các cơ quan của Đảng và bộ, ngành.

Trong nhiệm kỳ V, các phiên họp định kỳ của Ban Thường vụ và Hội nghị hàng năm toàn thể Ban Chấp hành TƯ Hội mở rộng đều được thực hiện theo đúng Điều lệ của Hội KHLS VN. Riêng Ban Thường vụ, ngoài các phiên họp định kỳ, có thể sớm muộn ít nhiều, còn có những buổi triệu tập đột xuất để kịp thời giải quyết những công việc bất thường của Hội. Những cuộc Hội nghị Ban Chấp hành được tổ chức tại các địa phương đều nhận được sự tham gia tích cực của các Hội địa phương và sự ủng hộ của lãnh đạo các tỉnh như: Quảng Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Lạt, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Thừa Thiên - Huế.

Thay mặt Ban Chấp hành, tôi xin cảm ơn nhiệt tình của các Hội thành viên và lãnh đạo các địa phương đã góp phần tích cực vào sự thành công của các kỳ họp Ban Chấp hành trong các nhiệm kỳ qua.

Mối quan hệ giữa TƯ Hội với các hội thành viên cũng có những bước tiến mới như hỗ trợ nhau về nghiên cứu khoa học và tổ chức các hội thảo. Chế độ báo cáo định kỳ 6 tháng một lần đã được thực hiện tốt hơn, tuy nhiên vẫn còn một số tổ chức thành viên, nhất là các chi hội trực thuộc của các cơ quan khoa học TƯ chưa chấp hành đầy đủ. Tin tức về hoạt động của TƯ Hội và các đơn vị thành viên đã được đăng tải đều trên Tạp chí Xưa & Nay.

Hội KHLS VN là tổ chức thành viên của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và Mặt trận tổ quốc Việt Nam. Hội đã duy trì và thực hiện đầy đủ trách nhiệm với các tổ chức cấp trên, cử đoàn đại biểu tham gia Đại hội Mặt trận Tổ quốc lần thứ VII, Đại hội Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam lần thứ VI, cử đại diện tham gia Ủy ban TƯ Mặt trận, Hội đồng TƯ và Đoàn chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam. Trong các hoạt động, Hội luôn giữ mối quan hệ tốt với các cơ quan của Đảng và Nhà nước như Ban Tuyên giáo TƯ, Ban Đối ngoại TƯ, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hoá-Thể thao & Du lịch, Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và truyền thông...

Nhìn lại 5 năm của nhiệm kỳ V, tổ chức của Hội KHLS VN vẫn tiếp tục phát triển và được củng cố. Tuy vậy, đến nay ở một số địa bàn quan trọng có khá nhiều cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, có yêu cầu thành lập Hội như các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Nam, Khánh Hoà... vẫn chưa thành lập Hội. Hoạt động của Hội không chỉ giới hạn trong số lượng hội viên của Hội mà còn bao gồm các phương thức hoạt động thu hút được sự tham gia của giới sử học và những người yêu thích lịch sử nói chung, nhất là các vị lão thành cách mạng, các nhà giáo nghỉ hưu. Nhiều hoạt động của Hội TƯ cũng như các tổ chức thành viên, các hội cấp tỉnh, thành phố đã được những người công tác sử học và yêu thích sử học tham gia hưởng ứng, nhất là các hội thảo khoa học. Có những tỉnh chưa thành lập Hội như Quảng Nam, Khánh Hoà, Kon Tum, Hưng Yên, Cà Mau... đã liên hệ và phối hợp hoạt động với Hội trong tổ chức hội thảo cũng như trong nghiên cứu những vấn đề lịch sử địa phương. Tuy chưa phát triển tổ chức khắp các tỉnh, thành phố nhưng Hội KHLS VN đã thực sự trở thành tổ chức xã hội nghề nghiệp đại diện cho giới sử học cả nước, điều đó đã được khẳng định trong cộng đồng những người làm công tác sử học cũng như trong dư luận xã hội.

2. Góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền sử học Việt Nam

Chức năng, nhiệm vụ hàng đầu của Hội KHLS VN là trên cơ sở liên kết và phối hợp với cơ quan nghiên cứu, đào tạo và hoạt động về sử học, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học lịch sử VN. Đây cũng là quyền lợi cơ bản và yêu cầu, nguyện vọng cao nhất của giới sử học đối với một tổ chức xã hội nghề nghiệp của mình.

Bằng các cuộc hội thảo khoa học và diễn đàn sử học do TƯ Hội hay do các hội thành viên tổ chức phối hợp với những cơ quan khoa học và chính quyền địa phương, bằng những trao đổi thảo luận trên Tạp chí Xưa & Nay, Hội KHLS VN đã khẳng định những bước trưởng thành và những thành tựu của nền sử học hiện đại Việt Nam và phát hiện những mặt hạn chế cần khắc phục trước những yêu cầu mà sự phát triển của đất nước khi bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập đang đặt ra cho nền sử học chúng ta.

Hiện nay, nền sử học chúng ta đã phát triển tương đối đồng bộ bao gồm nhiều chuyên ngành liên quan mật thiết với nhau từ lịch sử Việt Nam cổ - trung đại, lịch sử Việt Nam cận-hiện đại, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, lịch sử quân sự, lịch sử công an nhân dân, khảo cổ học, bảo tàng học... cho đến lịch sử khu vực và lịch sử thế giới từ cổ đại đến hiện đại và lịch sử địa phương, lịch sử các ngành, nghề... Một hệ thống các viện, trung tâm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và các bộ, các khoa lịch sử thuộc các trường đại học, cao đẳng, một hệ thống các viện bảo tàng, các cơ quan văn hoá, giáo dục từ trung ương đến các tỉnh, thành phố... đều trên đường phát triển. Đội ngũ những người làm công tác sử học cũng tăng trưởng tương đối nhanh, trong đó một số được đào tạo ở nước ngoài, một số đạt học vị thạc sĩ, tiến sĩ, được phong hàm phó giáo sư, giáo sư... Đặc biệt đáng quan tâm là trong đội ngũ đó, tuy có những hẫng hụt nhất định về thế hệ nhưng cũng đã xuất hiện một số cán bộ trẻ rất năng động và nhiều triển vọng.

Các chuyên ngành của khoa học lịch sử Việt Nam trên những lĩnh vực khác nhau đều có những cống hiến khoa học, nhiều phát hiện có giá trị và đều có đóng góp cho đất nước, cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá. Khảo cổ học liên tục được mùa với nhiều phát hiện làm sáng rõ hơn bản đồ tiền sử trên phạm vi cả nước, nâng cao nhận thức về ba trung tâm văn hoá lớn thời cổ đại từ văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc, văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung đến văn hoá Óc Eo ở miền Nam, gần đây là phát hiện di tích Hoàng thành Thăng Long và sự kiện Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản Văn hoá thế giới là một thắng lợi to lớn của Việt Nam, trong đó Hội KHLS VN đã đóng góp phần đáng kể. Các ngành lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng, lịch sử quân sự, lịch sử công an nhân dân ngoài các công trình nghiên cứu chuyên đề hay tổng kết còn coi trọng việc sưu tầm tư liệu và khai thác những nguồn tư liệu mới. Những bộ quốc sử và bộ sử có giá trị trong kho tàng thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục... được Viện Sử học tái bản. Các nguồn tư liệu quý như văn bia, châu bản triều Nguyễn, gia phả, địa bạ, văn hoá dân gian của các dân tộc, tư liệu và hiện vật về các hải đảo như Hoàng Sa, Trường Sa, về cách mạng, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, về công cuộc đổi mới, một bộ phận tư liệu liên quan đến Việt Nam bảo quản ở nước ngoài... đã được các cơ quan chuyên trách, các bảo tàng và giới khoa học quan tâm thu thập và khai thác, làm phong phú hơn hiểu biết về lịch sử, văn hoá và đời sống của các cộng đồng cư dân và dân tộc.

Công việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương cấp tỉnh, thành phố cho đến cấp huyện, xã cũng phát triển mạnh dưới nhiều hình thức như lịch sử, địa chí, từ điển bách khoa, bách khoa thư... Nhiều công trình thuộc loại hình này đã được xuất bản, góp phần nâng cao dân trí và phát huy tác dụng giáo dục truyền thống dân tộc, trong đó có khá nhiều công trình do Hội KHLS địa phương đảm nhiệm hoặc phối hợp biên soạn.

Ngoài các hội thảo và hoạt động do Hội tổ chức, giới sử học còn tham gia vào nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế lớn như Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ III (12/2008), những hội thảo 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2009), kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 35 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (2010), 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh... Các nhà sử học còn tham gia vào nhiều chương trình và đề tài khoa học cấp Nhà nước với mục tiêu cung cấp các luận chứng khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề xuất các giải pháp cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới.

Trong sự phát triển chung của nền sử học Việt Nam, vai trò của Hội KHLS VN ngoài chức năng tập hợp và phối hợp hoạt động, còn qua các hội thảo khoa học, diễn đàn sử học, với cương vị đại diện cho giới sử học, đưa ra các nhận định, đánh giá và đề xuất các giải pháp, kiến nghị về định hướng phát triển nền sử học Việt Nam. Thành công lớn nhất về phương diện này là trên cơ sở trí tuệ tập thể tạo nên yêu cầu đổi mới trong tư duy sử học, trong nhận thức lịch sử cho phù hợp với thực tế khách quan của lịch sử và xu thế phát triển của khoa học lịch sử hiện đại trên thế giới.

Một loạt các giai đoạn lịch sử, sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử đã được nhận thức lại một cách khách quan, trung thực hơn. Nhiều sự kiện, nhân vật lịch sử thời hiện đại cũng được ngành lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, lịch sử quân sự, lịch sử công an nhân dân xác minh và nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, công bằng hơn, một số nhân vật được khôi phục công lao, cống hiến của mình.

Đặc biệt các hội thảo "Đánh giá thực trạng việc dạy và học môn lịch sử trong trường phổ thông - Nguyên nhân và giải pháp" phối hợp với Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh) và Đại học Hồng Bàng phối hợp tổ chức;  hội thảo "Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX" phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hoá, là những hội thảo chuẩn bị chu đáo, được giới khoa học và dư luận xã hội đánh giá cao. Sau hội thảo "Đánh giá thực trạng việc dạy và học môn lịch sử trong trường phổ thông - Nguyên nhân và giải pháp", Hội đã cử GS. Đinh Xuân Lâm và GS. Vũ Dương Ninh tham gia góp ý kiến về chương trình môn học và sách giáo khoa lịch sử, về dự thảo luật Giáo dục (sửa đổi) với Liên hiệp các hội KHKT VN và Bộ Giáo dục & Đào tạo.

Hội hợp tác với Bộ Khoa học & Công nghệ, Viện KHXHVN và ĐHQG Hà Nội, TP. HCM tổ chức 4 hội thảo về văn hóa Óc Eo, về quá trình phát triển của vùng đất Nam bộ, từ đó xác lập quan điểm coi lịch sử vùng đất Nam bộ không chỉ bắt đầu khi người Việt vào khai phá từ thế kỷ XVII mà phải ngược lên thời tiền sử khi con người xuất hiện trên vùng đất phương Nam này. Lịch sử Việt Nam có nguồn cội từ lãnh thổ Việt Nam hiện nay và tất cả hoạt động của con người diễn ra trên không gian địa lý này đều thuộc lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Trên cơ sở quan điểm lịch sử đó, Ban Bí thư TƯ Đảng đã giao cho Hội KHLSVN, dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo, tổ chức biên soạn sách "Lược sử vùng đất Nam bộ - Việt Nam" do GS. TSKH Vũ Minh Giang chủ biên. Sách do Nxb. Thế giới xuất bản lần thứ nhất năm 2006 với số lượng 1 vạn cuốn và tái bản có sửa chữa năm 2008 với số lượng 3 vạn cuốn. Bản dịch tiếng Khmer, tiếng Anh, tiếng Pháp đang được hoàn thành để xuất bản. Cuốn sách đã góp phần tạo dựng nên một nhận thức mới mẻ về lịch sử và văn hóa vùng đất Nam bộ, trang bị cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ hơn quá trình xác lập lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam.

Bộ Khoa học & Công nghệ đã giao cho Hội KHLS VN chủ trì Đề án KHXH cấp Nhà nước về "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam bộ" do GS. Phan Huy Lê chủ nhiệm. Đề án gồm 11 đề tài đang được triển khai với sự tham gia của các nhà khoa học và các cơ quan khoa học ở Trung ương, Hà Nội và TP. HCM. Sản phẩm của Đề án là một công trình tổng hợp gồm 2 tập và 10 chuyên khảo sẽ được xuất bản.

Lịch sử Việt Nam không nên nhận thức một cách phiến diện như trước đây, là lịch sử đơn tuyến của dòng văn hoá Đông Sơn với nước Văn Lang - Âu Lạc rồi đến Đại Cồ Việt - Đại Việt, mà là lịch sử của các cộng đồng cư dân, các tộc người, các vương quốc đã từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, bao gồm cả lịch sử dòng văn hoá Sa Huỳnh với nước Chămpa và dòng văn hoá Óc Eo với nước Phù Nam.

Nội dung lịch sử cũng được giới sử học nhấn mạnh tính toàn diện của nó, không chỉ là lịch sử chống ngoại xâm, lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử chính trị, mà còn bao gồm tất cả các mặt của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng... Trong nội dung lịch sử, dĩ nhiên lịch sử chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước tiêu biểu cho lịch sử anh hùng của đất nước, giữ vai trò cực kỳ quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc trước nguy cơ xâm lăng và đồng hoá của ngoại bang, nhưng lịch sử xây dựng đất nước với những phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá vẫn là nền tảng của sự trường tồn của đất nước, vẫn là tiềm lực quyết định thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Vì vậy, lịch sử dân tộc cần được nhận thức một cách toàn diện, cùng với những trang sử chống ngoại xâm oai hùng, cần nghiên cứu và trình bày đầy đủ hơn lịch sử kinh tế, xã hội, văn hoá và đời sống bình thường của cộng đồng cư dân, cộng đồng các dân tộc.   

Quan niệm lịch sử khách quan, toàn diện như trên đã nảy sinh từ một số nhà sử học và qua các hội thảo khoa học, trong đó Hội KHLS VN giữ vai trò nòng cốt tổ chức đã dần dần lan toả và ngày càng được giới sử học và xã hội chấp nhận. Quan niệm đó đã được biểu thị trên một số công trình khoa học, được xác lập trong biên soạn giáo trình đại học ở một số trường. Tiếc rằng cho đến nay, quan niệm như thế vẫn chưa được quán triệt đầy đủ trong chương trình môn lịch sử, sách giáo khoa lịch sử cấp phổ thông và một số sách phổ cập kiến thức lịch sử, gây nên những mảng trống, những hẫng hụt trong nhận thức lịch sử dân tộc của cán bộ, nhân dân, nhất là lớp trẻ và do đó không nắm vững những luận chứng khoa học trong cuộc đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc lịch sử của những thế lực thù địch.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh cụ thể của đất nước và thế giới, đòi hỏi giới sử học phải đổi mới tư duy lịch sử trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử. Trên đây là những xu hướng tiêu biểu của đổi mới tư duy sử học mà Hội KHLS VN đã góp phần tích cực cùng với các cơ quan nghiên cứu và giới sử học xác lập.

Trong Đại hội lần thứ IV và V, Hội KHLS VN cũng đã đề xuất và kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm đến việc tổ chức biên soạn những bộ lịch sử Việt Nam xứng đáng với nội dung và bề dày của lịch sử dân tộc, phản ánh những thành tựu mới nhất của nền sử học hiện đại của đất nước và những thành tựu chọn lọc của giới Việt Nam học trên thế giới. Trong thời gian qua, bốn bộ lịch sử Việt Nam đã và đang đồng thời được biên soạn do Hội đồng KHXH TP. Hồ Chí Minh, Viện Sử học, Khoa Lịch sử - Đại học Sư phạm Hà Nội và Khoa Lịch sử - Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì. Bộ "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam" 4 tập đã được hoàn thành, bộ "Lịch sử Quân sự Việt Nam" 15 tập, bộ "Lịch sử Công an nhân dân 1945-1975" 6 tập đã được biên tập và xuất bản. Ngoài những công trình nghiên cứu mang tính chuyên đề thì trên đây là những công trình mang tính tổng hợp và tổng kết cao. Trên cơ sở đó, Hội KHLS VN đề nghị đã đến lúc giới sử học cả nước cần chung sức biên soạn một bộ "Lịch sử Việt Nam" đồ sộ khoảng 20-25 tập, xuất bản như bộ Quốc sử của thời đại Hồ Chí Minh.

Một trong những mục tiêu từ lâu Hội đã đặt ra là xây dựng Quỹ Phát triển Sử học để khuyến  khích việc học tập lịch sử của thế hệ học sinh, sinh viên và khen thưởng các công trình sử học có giá trị tương xứng với những đóng góp của giới sử học. Nhưng cho đến nay mục tiêu này vẫn chưa thực hiện được do chưa đủ kinh phí để thành lập quỹ theo quy định hiện hành. Tuy thời gian vừa quan ban vận động quỹ đã rất tích cực vận động tài trợ nhưng số tiền ủng hộ còn rất khiêm tốn.

Trong khi đó, 10 năm qua, Quỹ Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật được thành lập với sự đóng góp của hậu duệ nhân vật lịch sử này, giải thưởng dành cho các luận án Tiến sĩ sử học xuất sắc đã được tổ chức đều đặn hàng năm. 49 giải đã được trao cho 49 luận án tiến sĩ xuất sắc nhất. Giải thưởng có tác dụng cổ vũ, khuyến khích các nhà sử học trẻ tuổi, nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học.

Nằm ngoài tổ chức Hội, Giải thưởng Trần Văn Giàu cũng là một nguồn khích lệ hoạt động sử học của chúng ta.

Một số hội thành viên như Hội KHLS TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng được Quỹ học bổng và phát học bổng cho sinh viên ngành lịch sử các trường đại học.

Bên cạnh những thành tựu và tiến bộ trên, sử học Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại và bộc lộ không ít hạn chế, nhược diểm cần sớm được phát hiện và có biện pháp khắc phục.

Đội ngũ chúng ta phát triển khá nhanh về số lượng nhưng chưa được thật đồng bộ và trình độ còn nhiều hạn chế, nhất là về lý luận và phương pháp luận. Một số nhà sử học đã có nhiếu cố gắng trong vận dụng những lý thuyết và phương pháp mới trong nghiên cứu và đào tạo như phương pháp định lượng, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận hệ thống và cấu trúc, phương pháp loại hình học, phương pháp liên ngành, phương pháp khu vực học... Nhưng những cố gắng mang tính cập nhật xu thế phát triển của khoa học hiện đại chưa trở thành xu thế chi phối và cũng chưa được truyền bá rộng.

Trong việc biên soạn lịch sử địa phương, nhất là lịch sử làng xã, gia phả dòng họ... đang phát triển như một trào lưu xã hội, biểu thị nhu cầu văn hoá ngày càng nâng cao của nhân dân. Nhưng bên cạnh những công trình nghiêm túc, có giá trị khoa học thì cũng có không ít sản phẩm kém chất lượng, phạm những sai lầm về thu thập và giám định sử liệu, về nhận định và trình bày.

Một hiện tượng đáng phê phán là trên thị trường sách báo thời kinh tế thị trường đã xuất hiện một số sản phẩm vi phạm tính khoa học, gây nên nỗi lo lắng của xã hội và giảm độ tin cậy của người đọc. Chúng tôi muốn nói đến một ít cuốn sách biên soạn cẩu thả, sử dụng tư liệu tuỳ tiện, thiếu giám định sử liệu, không phân biệt huyền thoại, truyền thuyết với lịch sử, hiện tượng "xào nấu", "luộc sách", thậm chí "đạo văn", vi phạm pháp luật khá nghiêm trọng, trong đó có cả lĩnh vực sử học chúng ta. Điều đáng tiếc là chúng ta chưa thẳng thắn phê phán hiện tượng tiêu cực này, do vậy ảnh hưởng phần nào đến uy tín của nền sử học trong xã hội.

Trong nhiệm kỳ 5 năm qua, Hội KHLS VN đã phát huy được vai trò của một tổ chức xã hội nghề nghiệp của giới sử học trong thúc đẩy đổi mới tư duy sử học, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền sử học hiện đại Việt Nam. Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại không ít những mặt hạn chế, kể cả mặt tiêu cực cần tiếp tục phối hợp với các cơ quan khoa học và cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị để tiếp tục khắc phục.

3. Hoạt động truyền bá kiến thức và giáo dục truyền thống

3.1. Hội thảo khoa học, sinh hoạt tưởng niệm sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử và danh nhân

Đây là một thế mạnh của Hội nhờ vào những kinh nghiệm tổ chức và uy tín được tích luỹ từ nhiều năm qua. Hoạt động này cũng phù hợp với chức năng của một hội nghề nghiệp và xã hội, phát huy khả năng liên kết các trung tâm nghiên cứu và giảng dạy, các địa phương và các đồng nghiệp đã hưu trí, các dòng họ, hậu duệ của các nhân vật lịch sử cũng như những người quan tâm đến lịch sử rất đông đảo nhưng không nằm trong các cơ quan chuyên môn. Danh mục các cuộc hội thảo được liệt kê cho thấy khối lượng hoạt động khá lớn của Hội, ngoài ra còn nhiều cuộc sinh hoạt khoa học, tưởng niệm danh nhân do các hội thành viên tổ chức trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước.

Theo trình tự thời điểm tổ chức, có thể kể một số cuộc hội thảo hay sinh hoạt tưởng niệm các nhân vật và sự kiện lịch sử do TƯ Hội tổ chức hay phối hợp với các cơ quan khoa học và  chính quyền cùng tổ chức, sau đây:

Tưởng niệm các nhân vật: Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn (2006), Thám hoa Mai Anh Tuấn, Tướng Nguyễn Chánh, Nhà văn Phan Khôi, Chế thắng Phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Xiển, Vũ Ngọc Phan, Phan Huy Chú (2007), Đặng Phúc Thông, Triết vương Trịnh Tùng, Danh sư Nguyễn Hy Quang, Nguyễn Trường Tộ, Phạm Khắc Hoè, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Nhân Quý, Nguyễn Mậu Kiến (2009), Thái sư Á Vương Đào Cam Mộc (2010), Phan Kế Bính (2010), Tướng Cao Văn Khánh (2010)...; Bảo trợ cho Cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Thượng tướng Chu Văn Tấn (ngày 22/05/2010)...

Các sự kiện và vấn đề lịch sử: Chương trình "Doanh nhân và danh nhân" (2006), Hội thảo về quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc trong lịch sử (2007, 2008, 2009), sinh hoạt tưởng niệm sự kiện 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục, Triển lãm ảnh "Hà Nội - Huế - Sài Gòn xưa" tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (2007), Hội thảo sử học Việt Nam với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc (2008), Hội thảo "Thực trạng dạy và học môn lịch sử ở trường phổ thông - Nguyên nhân và giải pháp", Hội thảo "Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX", Họp báo giới thiệu sách Thanh niên tiền tiến (2008), Hội thảo"750 năm chiến thắng Đông Bộ Đầu và những thành tựu xây dựng, bảo vệ kinh đô của họ Trần" (2009), Hội thảo quốc tế "Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình" (2010)...

Các hội thành viên cấp tỉnh/thành phố cũng tổ chức thành công nhiều cuộc hội thảo khoa học, đặc biệt là Hội KHLS Hà Nội nhân dịp kỷ niệm nghìn năm Thăng Long-Hà Nội, tỉnh Thừa Thiên-Huế, thành phố Hồ Chí Minh...

Thông qua những hoạt động này, uy tín và vị thế của TƯ Hội cũng như các hội địa phương được khẳng định đối với các cơ quan Nhà nước trung ương cũng như địa phương và trong nhân dân. Hội đã đáp ứng được yêu cầu của xã hội, góp phần phát huy và giáo dục truyền thống.

Các hội, chi hội thành viên, nhất là các hội cấp tỉnh, thành phố đều có nhiều hoạt động truyền bá kiến thức lịch sử, giáo dục truyền thống và trở thành chỗ dựa có hiệu quả cho Đảng và chính quyền địa phương về các hoạt động sử học và truyền thống. Hội trở thành đối tác hợp tác với nhiều cơ quan chuyên môn trong và ngoài ngành sử học để đồng chủ trì nhiều hoạt động sử học.

3.2. Tổ chức triển lãm

Triển lãm là lĩnh lực mà Hội đã tham gia khá sớm và có nhiều kinh nghiệm. Trong 5 năm trở lại đây, Hội đã phối hợp với một số cơ quan, tổ chức những triển lãm quy mô không lớn nhưng mang nhiều ý nghĩa lịch sử, văn hoá và được đánh giá cao. Triển lãm Giá trị lịch sử của bưu ảnh cổ đầu thế kỷ XX tổ chức tại Trung tâm Văn hoá Pháp tháng 5/2005 với những ảnh do Hội sưu tập được. Người xem, trong đó có nhiều khách nước ngoài, tỏ thái độ rất trân trọng. Triển lãm Nguyễn Duy Kiên - Những ký ức còn lại diễn ra tháng 10/2006 tại 23 Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội; Triển lãm ảnh Hà Nội - Huế - Sài Gòn xưa tại 29 Hàng Bài, Hà Nội tháng 10/2007; Mới nhất là triển lãm ảnh Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa tại Thư viện Hà Nội tháng 1/2010, Cần Thơ những năm đầu thế kỷ XX tại Cần Thơ tháng 7/2010, Ký ức về những ngày độc lập đầu tiên giới thiệu tập ảnh trên 200 tấm của ông Philippe Devilers tặng GS. Phan Huy Lê, tại Hà Nội từ ngày 21-26/9/2010.

3.3. Đúc tượng danh nhân

Cuộc vận động "Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân" bắt đầu từ cuối năm 1997 với việc kỷ niệm Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố và đã bền bỉ thực hiện được 13 năm và trên cơ sở 80 mẫu tượng được thẩm định đã đúc trên 200 pho tượng các nhân vật lịch sử, các nhà cách mạng, các tướng lĩnh... Từ ý tưởng tôn vinh danh nhân và phương thức xã hội hoá một trong những việc làm có ý nghĩa nhưng chưa thành tập quán xã hội nay đã phát triển khá sâu rộng, tạo được hiệu quả và uy tín cho Hội, được nhiều nơi học tập. Trong nhiệm kỳ qua Hội đã đúc các pho tượng như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, Phan Châu Trinh, Thái uý Lý Thường Kiệt, GS. Nguyễn Hoán, GS. Nguyễn Thạc Cát, GS. Nguỵ Như Kom Tum, GS. Nguyễn Đình Tứ, Bùi Lâm, Tướng Nguyễn Sơn, GS. Tạ Quang Bửu, Phùng Hưng, Hoàng Văn Thái, Tướng Nam Long, Phan Thanh Giản, Tô Hiệu, Tô Chấn, Đỗ Đình Thiện, Nghiêm Xuân Danh, Huỳnh Ngọc Huệ, Trần Văn An, Đặng Xuân Thiều, GS. Nguyễn Đình Tứ, Hoàng Hoa Thám, Phan Thành Tài, Chu Văn Tấn...

Các pho tượng này đều được thực hiện bằng đóng góp của các cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp hay cá nhân, sự tự nguyện sáng tác mẫu của nghệ sĩ Tạ Duy Đoán và một số nghệ sĩ khác và các cơ sở đúc đồng truyền thống. Các bức tượng này được trao cho các nhà trường, nhà lưu niệm hay bảo tàng, các đình, chùa hay nhà thờ họ, các cơ quan hay tổ chức doanh nghiệp và đã phát huy tác dụng rất tích cực, được dư luận xã hội hoan nghênh. Một số bức tượng đã được trưng bày ở nước ngoài. Hiện nay, chương trình đúc tượng vẫn đang tiếp tục với nhu cầu ngày một cao.

Nhân đây, Hội KHLS VN biểu dương những thành viên tham gia và các tổ chức, cá nhân đã nhiệt tâm đóng góp vào cuộc vận động này.

4. Hoạt động truyền thông, tạp chí, xuất bản

Tạp chí Xưa & Nay đã bước sang năm thứ 17 (1994-2010), đã phát hành 367 số, trung bình từ 5.000 đến 6.000 bản/số. Tuy về chất lượng đây đó trên các số tạp chí vẫn còn những điểm sơ suất cần tiếp tục khắc phục, nhưng nhìn toàn cục, tạp chí đã thực sự trở thành cơ quan ngôn luận của Hội KHLS VN, diễn đàn trao đổi những vấn đề khoa học mà giới sử học quan tâm, cập nhật những vấn đề mang tính thời sự của sử học và góp phần truyền bá kiến thức lịch sử trong xã hội. Tạp chí Xưa & Nay càng ngày càng khẳng định được vị trí và uy tín trong làng báo, trong giới sử học cũng như những người yêu thích lịch sử. Ngoài những số thông thường tạp chí còn ra những số chuyên đề có phụ trương, nhằm mục đích kỷ niệm những sự kiện hoặc nhân vật đặc biệt, với sự đóng góp kinh phí của những cơ quan hay dòng họ tổ chức. Tính từ năm 2005 đến nay, tạp chí đã ra 133 số có phụ trương từ 16 đến 32 trang.

Mặc dầu từ năm 2000 việc đưa báo ra nước ngoài bị hạn chế, do không có đầu mối phát hành tại Pháp và Mỹ, nhưng số độc giả quen thuộc của tạp chí ở nước ngoài vẫn thường theo dõi được đầy đủ qua các kênh phát hành khác. Công việc dịch thuật của tạp chí vẫn tiến hành đều đặn, chuyển tải được những thông tin về lịch sử trên thế giới đến với độc giả trong nước.

Từ tháng 4 năm 2009, tạp chí đã điều chỉnh lại công việc ấn loát, đưa toàn bộ việc in vào Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ vậy mà các số báo từ nay trình bày được nhất quán, không còn phân biệt số phía Bắc và số phía Nam. Kỹ thuật in cũng được cải tiến đẹp hơn.

Tạp chí Cổ vật tinh hoa là ấn phẩm của Hội nghiên cứu - sưu tầm gốm và cổ vật Thăng Long, một tổ chức thành viên của Hội KHLS VN, đã ra được 33 số (đến tháng 7/2010). Hiện nay, tạp chí đã ra định kỳ 1 tháng 2 số, chất lượng in ấn cao, ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, trước hết là của giới sưu tầm và nghiên cứu cổ vật.

Cùng với tạp chí của TƯ Hội, các tạp chí của các hội cấp tỉnh, thành phố vẫn tiếp tục duy trì và phát triển với tên gọi chung là Xưa & Nay như: Huế Xưa & Nay, Quảng Ninh Xưa & Nay, Đồng Tháp Xưa & Nay, Bà Rịa - Vũng Tàu Xưa & Nay, Bạc Liêu Xưa & Nay, Thành Hạc Xưa & Nay (Thanh Hóa), Bình Định Xưa & Nay... hoặc ra định kỳ hoặc không định kỳ. Hội KHLS tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu còn ra tập san Thông tin khoa học lịch sử Bà Rịa - Vũng Tàu. Duy trì được các tạp chí như vậy đối với các hội thành viên là một cố gắng rất lớn, nhưng cũng có tạp chí đã vượt qua nhiều thách thức và đi vào ổn định, ra tương đối đều như tạp chí Huế Xưa & Nay.

Hệ thống tạp chí Xưa & Nay của TƯ Hội và các hội thành viên đã tạo nên nét đặc sắc trong hoạt động của Hội KHLS VN và cùng với tạp chí chuyên ngành của các cơ quan nghiên cứu như: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử Đảng, Lịch sử quân sự, Khảo cổ học... làm phong phú cho hệ thống truyền thông của nền sử học Việt Nam và tạo thành một mạng lưới thông in bổ ích cho giới sử học cũng như cho xã hội.

Về hoạt động xuất bản, khối lượng sách do Hội xuất bản cũng tăng lên đáng kể và là một cống hiến quan trọng cho sự phát triển của sử học Việt Nam.

Cơ quan của Tạp chí Xưa & Nay tại TP. Hồ Chí Minh đã cho ra mắt nhiều ấn phẩm được tập hợp và hệ thống theo chủ đề của tạp chí, trong đó có những ấn phẩm có giá trị như: Hồ Chí Minh hiện thân của văn hóa hòa bình, Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Trương Vĩnh Ký, Nghiên cứu Hà Tiên, Sài Gòn xưa & nay, Tây Nguyên đất và người, Quang Trung- Nguyễn Huệ di sản & bài học, Hồ Quý Ly, Dấu ấn Võ Văn Kiệt, Sài Gòn qua bưa ảnh xưa, Hà Nội - Huế - Sài Gòn, Hà Nội xưa, Sơn Nam đi và ghi nhớ, Triều Nguyễn và những vấn đề lịch sử, Tiền tệ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nguyễn Văn Tạo, Đà Lạt xưa, Lê Văn Duyệt, Võ Nguyên Giáp trong cuộc trường chinh thế kỷ, Việt Nam đầu thế kỷ XX qua bưa ảnh xưa, Nguyễn Đình Đầu - hành trình của một tri thức dấn thân, ...

Các hội thành viên cũng có nhiều cố gắng xuất bản những công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa địa phương và kỷ yếu các hội thảo khoa học. Những sách có giá trị được nhiều người quan tâm như: Sài Gòn xưa, Kiên Giang xưa & nay, Đà Nẵng xưa & nay, Quảng Nam xưa & nay... Chúng tôi chưa liệt kê hết các ấn phẩm của các hội địa phương và đã có phụ lục kèm theo báo cáo. Cùng với các ấn phẩm của Hội KHLS VN và các hội thành viên, các cơ quan nghiên cứu và đào tạo sử học còn xuất bản hàng loạt các công trình nghiên cứu chuyên đề trên tất cả các lĩnh vực của khoa học lịch sử.

5. Thực hiện chức năng giám định, tư vấn khoa học

Đây là chức năng của Hội, phù hợp với Điều lệ của Hội và đặc biệt được quy định trong các văn bản gần đây của Đảng và Nhà nước. Sau Chỉ thị 45 (11/1998) của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/1/2002 thể chế hóa chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và các hội thành viên. Gần đây Chỉ thị 42/CT/TW ngày 16-4-2010 của Bộ chính trị càng khẳng định và nêu cao vai trò "đề xuất, tham mưu cho Đảng và Nhà nước", "chủ động tư vấn, phản biện và giám định xã hội" của Liên hiệp các Hội KH-KTVN và các Hội thành viên. Các văn bản pháp quy này đã nêu cao trách nhiệm và tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định của các hội khoa học kỹ thuật, trong đó có Hội KHLS VN. Luật Di sản văn hóa có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002, bổ sung, sửa đổi năm 2009, tạo thêm cơ sở pháp lý cho các hoạt động của hội trong nhiệm vụ bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

Trong nhiều hoạt động tư vấn của Hội được dư luận đánh giá cao, chúng tôi nêu lên như một vài ví dụ tiêu biểu.

Nổi bật nhất trong nhiệm kỳ V là những kiến nghị và đóng góp của Hội với các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị và trong dư luận xã hội đối với công trình khai quật và bảo vệ di tích Hoàng thành Thăng Long kéo dài từ năm 2003 đến nay. Vấn đề đặt ra không chỉ là việc thực hiện nghiêm Luật Di sản văn hóa mà bằng một quá trình kiên nhẫn vận động, thuyết phục, phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn và giới truyền thông, cùng dư luận tạo được sự đồng thuận của xã hội mang tính thuyết phục dẫn đến những đề xuất về chủ trương và những giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy di sản này. Hội thông qua một số chuyên gia mà đại diện là GS. Phan Huy Lê đã cùng chuyên gia trên các lĩnh vực liên quan, đã hoàn thành bộ hồ sơ đề cử Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội để trình UNESCO và sau đó tiếp tục giải trình bảo vệ hồ sơ là cơ sở khoa học vững vàng kết hợp với sự vận động ngoại giao tích cực để được công nhận là Di sản Văn hoá thế giới ngày 1-8-2010.

Hội đã tổ chức giám định thành công bộ sách giáo khoa lịch sử lớp 6,7,8; tiếp tục tổ chức giám định về chất lượng thiết bị dạy học môn lịch sử tại các trường Tiểu học và THCS của tổ nghiên cứu Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và Viện chiến lược & chương trình giáo dục.

Trong thời gian chuẩn bị kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, Hội đã đưa ra nhiều ý kiến tư vấn với Uỷ ban Nhân dân TP. Hà Nội về những hoạt động kỷ niệm, về bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của Thăng Long nghìn năm văn hiến, về Tủ sách Nghìn năm Văn hiến, tham gia nhiều hội đồng nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học. Riêng việc trả lại con đường 19-12, đã gây được tiếng vang tốt trong dư luận và trong quần chúng nhân dân. Hội không chỉ tư vấn mà còn cùng với Hội KHLS TP Hà Nội tổ chức nhiều đợt điều tra khảo sát một số di tích quan trọng và tổ chức nhiều hội thảo khoa học, chủ trì một số công trình nghiên cứu khoa học chuẩn bị kỷ niệm nghìn năm Thăng Long-Hà Nội.

Hội đã tư vấn, hỗ trợ Đài truyền hình mở những chương trình phổ cập tri thức lịch sử trong nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ như: Theo dòng lịch sử, Thông điệp thời gian...

Trong dịp chuẩn bị Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật di sản văn hóa, trình Quốc hội thông qua, Hội đã tham gia tích cực, đề xuất nhiều nội dung sửa đổi được chấp thuận.

Gần đây, Hội phối hợp với Cục Thông tin Đối ngoại - Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban biên giới Chính phủ, nghiên cứu toàn bộ tư liệu lịch sử và hồ sơ đàm phán giữa hai chính phủ Việt Nam, Trung Quốc để biên soạn sách "Biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc". Sách do GS. Vũ Dương Ninh chủ biên, đã hoàn thành bản thảo và đang chuẩn bị nghiệm thu để xuất bản.

Trên tinh thần trách nhiệm của một tổ chức xã hội nghề nghiệp của giới sử học cả nước, Hội đã phát biểu ý kiến tư vấn với Đảng và Nhà nước nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử-văn hóa Việt Nam như vấn đề biển Đông, vấn đề xây dựng một nhận thức mới về lịch sử và văn hóa miền Trung, miền Nam, vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy môn lịch sử trong nhà trường... 

Với chức năng và uy tín, Hội đã có mặt trong nhiều tổ chức quan trọng như Uỷ ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia,  Ban Chỉ đạo và Hội đồng nghiệm thu lịch sử Chính phủ,... tham gia vào Hội đồng chỉ đạo và nghiệm thu nhiều đề tài cấp Nhà nước, tham gia tư vấn và giám định nhiều công trình quan trọng cấp quốc gia có liên quan đến lịch sử và di sản văn hoá...

Các hội thành viên cũng đã phát huy vai trò tư vấn, giám định, phản biện về các dự án liên quan đến lịch sử, văn hóa trong phạm vi địa phương và được đánh giá tích cực. Có những hội đã chủ động đề xuất các ý kiến tư vấn, phản biện đối với một số dự án vi phạm Luật Di sản văn hóa hay thiếu tính khoa học, chưa tuân thủ những nguyên tắc cơ bản về bảo tồn, bảo tàng. Các hội địa phương hay chuyên ngành đều được mời tham gia vào các hoạt động tư vấn cho những vấn đề của thực tiễn đề ra như đặt tên đường phố, biên soạn công trình, xét duyệt di tích, thẩm định các vấn đề quan trọng có liên quan...

6. Công tác đối ngoại

Hoạt động đối ngoại vẫn được duy trì trong điều kiện cho phép. Hội KHLS VN vẫn là tổ chức thành viên của Ủy ban quốc tế các khoa học lịch sử, tham gia Đại hội đồng và Hội thảo quốc tế của tổ chức này. Cơ quan TƯ Hội tổ chức nhiều sinh hoạt tiếp xúc với giới sử học nước ngoài như mời và tiếp các nhà sử học quốc tế. Hợp tác với Espace de France tổ chức Triển lãm về bưu ảnh cổ; Hợp tác với quỹ Ford tổ chức triển lãm "Nguyễn Duy Kiên - Những ký ức còn lại"; Phối hợp với Đại sứ quán Mỹ tổ chức buổi gặp gỡ nói chuyện với GS. Larry Berman, tác giả cuốn sách Điệp viên hoàn hảo viết về nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn... Hội thảo Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX do Hội và UBND tỉnh Thanh Hoá tổ chức tại Thanh Hoá trong hai ngày 18-19/10/2008 là Hội thảo khoa học quy mô quốc gia và mang tầm quốc tế, thu hút sự tham gia của các đại biểu cả trong và ngoài nước. Trong số 90 tham luận tại Hội thảo có 7 tham luận của các tác giả Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Nga, Anh. Đặc biệt, Hội KHLS VN phối hợp cùng Hội Sử học Hàn Quốc, với sự tài trợ của Quỹ Nghiên cứu Lịch sử Đông Bắc Á, đã tổ chức thành công 3 cuộc hội thảo khoa học về Quan hệ Việt - Hàn trong lịch sử, tại Hà Nội năm 2007, Seoul năm 2008 và TP. Hồ Chí Minh năm 2009. Các báo cáo khoa học trong các hội thảo này được xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt và Hàn.

Hội đã tham gia cùng các trường đại học tổ chức thành công các cuộc hội thảo quốc tế Việt Nam học tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong các năm 2006 và 2009.

Hàng năm, Hội vẫn duy trì gửi báo cáo hoạt động đến Ủy ban quốc tế các khoa học lịch sử, tham gia Đại hội và tạo điều kiện cho các thành viên tham dự hội thảo và các hoạt động của tổ chức quốc tế có qui mô toàn thế giới này. Tuy nhiên do khó khăn về kinh phí nên sự tham gia các hoạt động quốc tế có lúc không thực hiện được.  

Trong các hoạt động đối ngoại, Hội tuân thủ nghiêm túc những nguyên tắc của công tác đối ngoại và các quy định của Nhà nước.

Như vậy, căn cứ vào những phương hướng được xác định tại Đại hội V, trên các phương diện phát triển tổ chức, phát triển nền sử học, đẩy mạnh hoạt động truyền bá kiến thức, nhiệm vụ tư vấn phản biện xã hội, trong nhiệm kỳ 5 năm vừa qua đã ghi nhận một bước phát triển mới với nhiều thành tựu khả quan của Hội KHLS VN. Sử học là một khoa học có nhiều quan hệ mật thiết với chính trị và nhà sử học có trách nhiệm công dân. Sử học và nhà sử học có nghĩa vụ cung cấp các luận chứng khoa học và đề xuất các ý kiến góp phần vào hoạch định chủ trương, chính sách, giải quyết các vấn đề liên quan đến lịch sử và văn hóa. Về phương diện này, bằng các kết quả nghiên cứu vả hoạt động khoa học, Hội đã có nhiều đóng góp tư vấn đầy tinh thần trách nhiệm trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, trong giáo dục lịch sử và nâng cao nhận thức về của xã hội về quá trình xác lập lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. 

Hoạt động của Hội tuy chưa mở rộng địa bàn về tổ chức trên tất cả các tỉnh, thành phố như chúng ta mong muốn, một số địa bàn quan trọng chưa có tổ chức hội, nhưng có thể nói rằng, Hội KHLS VN đã xác lập được vị thế phù hợp với chức năng của mình trong đời sống sử học của cả nước, xác lập được mối quan hệ và sự phối hợp trong giới sử học cũng như đối với các cơ quan khoa học trong hệ thống chính trị và xã hội. Hội đã góp phần vào nhiều hoạt động nghề nghiệp và xã hội của giới sử học cũng như đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Có thể tự tin khẳng định rằng, ảnh hưởng và uy tín của Hội không ngừng được củng cố. Trong hoạt động, Hội chưa để một sai sót đáng tiếc nào xảy ra trên phương diện tư tưởng chính trị và pháp luật. Đó là kết quả của nỗ lực chung của TƯ Hội cũng như các tổ chức thành viên, đặc biệt là của Ban Thường vụ Hội và cơ quan thường trực Văn phòng Hội với sự tham gia, ủng hộ của cả giới sử học, những người yêu thích lịch sử và sự quan tâm giúp đỡ, chỉ đạo của các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, nghiêm khắc kiểm điểm, còn rất nhiều lĩnh vực Hội chưa phát huy hết tiềm năng của mình, chưa mạnh dạn khai thác các nguồn lực của chính lực lượng sử học cũng như của xã hội. Sự đổi mới và nâng cao về trình độ chuyên môn, lý luận và phương pháp tiếp cận thể hiện qua những công trình còn nhiều hạn chế. Việc chúng ta chưa có một bộ Quốc sử tương xứng với lịch sử dân tộc là điều đáng suy nghĩ. Do vậy, Đại hội lần thứ VI cần vạch ra những phương hướng cơ bản cho nhiệm kỳ VI, xác định những mục tiêu tập trung và cụ thể.

II. KIỂM ĐIỂM CỦA BAN THƯỜNG VỤ VÀ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG HỘI

Ban chấp hành TƯ Hội định kỳ mỗi năm họp một lần. Từ năm 2005, sau Đại hội V đến nay, Ban Chấp hành TƯ đã có 6 phiên họp, kể cả phiên họp đầu tiên bầu các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và Ủy viên thường vụ ngay sau Đại hội V. Trong các Hội nghị Ban Chấp hành TƯ, chúng tôi thường xuyên mời đại diện một số cơ quan nghiên cứu, đào tạo về sử học và một số sử gia tiêu biểu cùng tham dự. Ngoài nhiệm vụ thường kỳ của Ban Chấp hành là thảo luận, đánh giá hoạt động năm trước và chương trình hoạt động năm sau do Ban Thường vụ báo cáo, hội nghị dành thời gian để trao đổi về tình hình sử học Việt Nam, nêu lên những vấn đề mà Hội KHLS VN cần quan tâm giải quyết trong chức năng và nhiệm vụ của mình hay nêu lên những kiến nghị để Hội báo cáo lên cấp có thẩm quyền. Các hội nghị Ban Chấp hành đều có Nghị quyết ủy nhiệm cho Ban Thường vụ tổ chức triển khai. Trừ một số ủy viên Ban Chấp hành vì sức khỏe hay công tác đột xuất xin vắng mặt (hầu hết đều có lý do chính đáng và có báo cáo vắng mặt), các ủy viên Ban Chấp hành, trong đó có nhiều vị tuổi cao hay đang đảm nhiệm công tác khá bận rộn, đều cố gắng thu xếp thời gian tham dự các hội nghị Ban Chấp hành và đóng góp ý kiến cho sự phát triển của Hội cũng như sẵn sàng nhận công tác được phân công. Nhiều ủy viên Ban Chấp hành TƯ Hội đồng thời giữ cương vị lãnh đạo các hội thành viên nên Hội nghị hàng năm Ban Chấp hành TƯ là cơ hội để trao đổi kinh nghiệm hoạt động và tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các tổ chức thành viên của Hội.

Thiếu sót của Ban Chấp hành TƯ là chưa huy động được nhiều ủy viên vào các hoạt động của TƯ Hội, chưa tham gia đóng góp ý kiến cho các chi hội và hội thành viên gặp khó khăn trong tổ chức và hoạt động của mình. Thiếu sót này chủ yếu thuộc về Ban Thường vụ, trước hết là Chủ tịch và Tổng Thư ký.

Ban Thường vụ có trách nhiệm tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành TƯ và là đại diện thường trực của Hội giữa các kỳ họp của Ban Chấp hành TƯ. Theo Điều lệ, Ban Thường vụ ba tháng họp một kỳ xem xét mọi hoạt động của Hội và đưa ra kế hoạch cụ thể cho ba tháng sau đó. Trên thực tế, ngoài các phiên họp thường kỳ, có thể sớm muộn ít nhiều do hoàn cảnh công tác của ủy viên thường trực, Ban Thường vụ còn có nhiều phiên họp bất thường để kịp thời giải quyết các yêu cầu hoạt động của Hội do Chủ tịch triệu tập.

Các buổi làm việc của Ban Thường vụ thường phải họp ngoài giờ hành chính, thời gian ngắn nhưng đã đảm bảo thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành và đưa ra kế hoạch triển khai cụ thể. Các nghị quyết của Ban Chấp hành đều được thực hiện đạt hiệu quả cao, trừ nghị quyết thành lập Quỹ phát triển sử học. Ban Thường vụ đã bàn bạc nhiều lần, Ban vận động đã tích cực hoạt động nhưng chưa đạt kết quả do khó khăn về yêu cầu ký quỹ quá cao so với khả năng của Hội.

Các ủy viên thường trực, các Trưởng ban chuyên trách đều có nhiều cố gắng và tinh thần trách nhiệm cao.

Tổng Thư ký cùng 3 phó tổng thư ký và Văn phòng TƯ Hội là cơ quan thường trực và tổ chức triển khai các hoạt động của Hội. Ba phó tổng thư ký bố trí ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Huế là nhằm tạo nên sự liên kết và điều hành hoạt động của Hội trên ba địa bàn quan trọng nhất ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Riêng tại các tỉnh, thành phố miền Nam, tuy không duy trì Ban đại diện TƯ Hội, nhưng các Phó chủ tịch, Phó tổng thư ký cùng các Ủy viên Ban thường vụ vẫn thay mặt TƯ Hội trong việc phát triển tổ chức Hội và phối hợp các hoạt động của các Hội thành viên miền Nam. Bố trí tổ chức và nhân sự như vậy là hợp lý, nhưng trong thực tế, hiệu quả phát huy còn hạn chế. Cơ quan Văn phòng TƯ Hội tuy số lượng cán bộ ít nhưng có tinh thần trách nhiệm cao và ngày càng có nhiều kinh nghiệm, xử lý kịp thời các hoạt động của Hội, giữ mối quan hệ với các tổ chức thành viên và các bộ, ban, ngành ở Trung ương.

Trong tổ chức và các hoạt động, Điều lệ Hội được tôn trọng và chấp hành đầy đủ. Về mặt tài chính, Hội chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của Nhà nước. Việc thu hội phí của hội viên cho đến nay Trung ương Hội chưa thực hiện được. Đây cũng là một trong những khuyết điểm của Trung ương Hội nói chung, Thường vụ Hội nói riêng.

III. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TRONG NHIỆM KỲ VI (2010-2015)

Thời gian 5 năm của nhiệm kỳ VI (2010-2015) có nhiều ý nghĩa trọng đại, khi Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI vạch ra kế hoạch phát triển đất nước, trong đó có mục tiêu đến đến năm 2016, đồng thời năm 2011 cũng là thời điểm kỷ niệm 65 năm thành lập KHLSVN (1966-2011). Chúng ta tin rằng, vị thế của sử học trong công cuộc Đổi mới và Hội nhập ngày càng quan trọng gắn liền với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc cùng như giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng và tinh thần dân tộc.

Trong bối cảnh đó, đề nghị Đại hội thảo luận và quyết định phương hướng hoạt động của nhiệm kỳ VI hướng vào những mục tiêu sau:

1. Tiếp tục củng cố và mở rộng tổ chức, hoạt động của Hội nhằm mục tiêu lâu dài đã đề ra là xây dựng Hội KHLS VN thành tổ chức xã hội nghề nghiệp của giới sử học cả nước. Tiếp tục xây dựng cơ sở Hội ở những tỉnh, thành phố có cán bộ sử học, có nhu cầu thành lập Hội mà đến nay vẫn chưa có tổ chức Hội. Tăng cường các hoạt động ở các cấp hội, đi vào những hoạt động thực chất mang lại tác dụng thiết thực và ý nghĩa nhằm phát huy vai trò, chức năng của Hội trên cơ sở vận động sự tham gia tự nguyện của các thành viên, của giới sử học và những người yêu thích lịch sử. Phát triển tổ chức phải luôn luôn đi liền với củng cố tổ chức và đảm bảo tính dân chủ, tính khoa học trong hoạt động của Hội ở mọi cấp. Sau khi Đại hội bầu ra Ban Chấp hành mới nhiệm kỳ VI, tổ chức của Hội cần được tăng cường và củng cố về mọi mặt và quan trọng nhất là Ban Thường vụ cùng với các Ban chuyên trách và Ban Thư ký, Văn phòng TƯ Hội.

Hoàn thành xây dựng phương thức thông tin hiện đại để thường xuyên trao đổi thông tin và quảng bá các hoạt động của Hội trong giới sử học và trong xã hội. Website của Hội trên mạng cần được đưa vào hoạt động và nâng cao chất lượng, kết hợp với cả tạp chí của TƯ Hội và các hội, chi hội thành viên, để trở thành diễn đàn và nơi cung cấp thông tin cập nhật nhất. Phương thức làm việc của Văn phòng, tạp chí Xưa và Nay, mối quan hệ với các hội thành viên cũng cần điện tử hóa và nối mạng trên phạm vi cả nước.

Tiếp tục và tăng cường các quan hệ quốc tế của Hội và của giới sử học Việt Nam, mở rộng sự giao lưu và hội nhập của nền sử học Việt Nam với nền sử học trên thế giới, tăng thêm các nguồn thông tin khoa học cho Hội và giới sử học trong nước. Thực hiện các nghĩa vụ với các tổ chức quốc tế mà Hội tham gia.

2. Tiếp tục phối hợp cùng với cơ quan nghiên cứu và đào tạo của Uỷ Ban quốc tế các khoa học lịch sử góp phần thúc đẩy sử học phát triển theo hướng đổi mới, kịp với yêu cầu phát triển của xã hội và vươn tới trình độ tiên tiến của sử học quốc tế, đặc biệt là về lý luận và phương pháp luận. Phát huy chức năng và ưu thế của một tổ chức xã hội nghề nghiệp của giới sử học và những yêu thích sử học cả nước với những sinh hoạt mang tính cộng đồng, dân chủ và cởi mở, Hội cần có kế hoạch định kỳ, tốt nhất là kết hợp với Hội nghị Ban chấp hành hàng năm như kinh nghiệm của mấy nhiệm kỳ qua, tổ chức một số diễn đàn cần thiết, để tự nhìn nhận và đánh giá đúng về những thành tựu, những tiến bộ và nhất là những mặt còn yếu kém để kịp thời đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự phát triển nền sử học Việt Nam hay kiến nghị với các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước.

 Việc thành lập Quỹ Phát triển sử học cần tiếp tục vận động kinh phí. Ngoài việc duy trì các giải thưởng đã có, việc phấn đấu có một giải thưởng sử học mang tính quốc gia là một mục tiêu cấp bách cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt. Ngoài các đề tài nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành ở cấp trung ương và địa phương, Hội cần hướng sự cố gắng vào việc khuyến khích biên soạn các bộ thông sử và các loại sách công cụ về sử học. Sau khi các bộ thông sử đã hoàn thành, Hội cần nghiên cứu và đề xuất dự án biên soạn một công trình mang tính tổng kết đồ sộ về Lịch sử Việt Nam tương xứng với tầm vóc của lịch sử dân tộc, đúc kết toàn bộ thành tựu nghiên cứu trong nước và trên thế giới về lịch sử Việt Nam. Hội cũng cần tự đảm nhiệm vai trò tham gia tích cực hơn vào các hoạt động sử học mang tính xã hội cao trong biên soạn lịch sử các làng xã, các dòng họ, các ngành nghề... Ban Khoa học của Hội phối hợp với Ban lịch sử địa phương của Viện Sử học, Bộ môn phương pháp luận sử học của Khoa Lịch sử - Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các cơ quan liên quan cần tiến hành nghiên cứu, khảo sát kỹ yêu cầu này và tổ chức các lớp tập huấn về phương pháp sưu tầm, giám định sử liệu, phương pháp biên soạn... để nâng cao dần các ấn phẩm thuộc lĩnh vực này.

3. Tăng cường hơn nữa chức năng giám định, tư vấn của Hội đáp ứng nhu cầu của Đảng, Nhà nước và xã hội. Trong các hoạt động tư vấn, giám định, Hội cần quy tụ được trí tuệ của các chuyên gia, cần tổ chức nghiên cứu cẩn trọng để bảo đảm trách nhiệm và uy tín của Hội, phát huy ảnh hưởng trong công luận và trong xã hội.

4. Tiếp tục phát huy ưu thế và kinh nghiệm phong phú của Hội trên lĩnh vực truyền bá tri thức lịch sử qua nhiều phương thức đa dạng và sinh động, phối hợp chặt chẽ với hệ thống truyền thông. Trên lĩnh vực này, Hội cần đặc biệt quan tâm đến giới trẻ và việc dạy sử trong hệ thống giáo dục. Sau khi hoàn thành hợp đồng thẩm định chương trình và sách giáo khoa phổ thông do Ban Tuyên giáo TƯ giao phó, Hội tiếp tục và thường xuyên theo dõi việc dạy và học sử trong trường phổ thông để kịp thời có những đề xuất và khuyến nghị với Bộ Giáo dục & Đào tạo cùng các cơ quan chức năng của Đảng, Quốc hội, Nhà nước.

Các hội thảo khoa học của TƯ Hội và các tổ chức thành viên cần kết hợp với nhau theo yêu cầu của các chủ đề, đồng thời phối hợp với cơ quan nghiên cứu liên quan.

Củng cố các cơ quan ngôn luận đã có của Hội TƯ và các địa phương. Phấn đấu có nhiều hơn nữa các ấn phẩm định kỳ của Hội chuyên ngành và địa phương trong hệ thống tên gọi chung Xưa & Nay như một số địa phương đã làm. Ban Thường vụ tiếp tục các thủ tục để sớm có một Nhà Xuất bản của Hội trong khi vẫn tiếp tục phát huy phương thức hiện có để tăng cường công tác xuất bản sách của Hội TƯ và các hội thành viên.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của chúng ta có trách nhiệm thảo luận và quyết định mục tiêu, phương hướng hoạt động thiết thực và khả thi của Hội để trong nhiệm kỳ 2010-2015, Hội KHLS VN tiếp tục phát triển về quy mô và chất lượng, xứng đáng là tổ chức xã hội nghề nghiệp của giới sử học cả nước, xứng đáng với chức năng, nhiệm vụ của sử học trong yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập thế giới của đất nước, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

GS.NGND Phan Huy Lê
Chủ tịch BCHTW Hội KHLSVN

 


Tải file đính kèm tại đây
Share |

 
Tin khác
Điều lệ Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khóa VI (bổ sung, sửa đổi)
Báo cáo công tác kiểm tra nhiệm kỳ V
Chương trình Đại hội VI

Bản quyền thuộc về Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (VAHS)

Giấy phép số 327/GP-BC của Cục Báo chí - Bộ Văn hóa Thông tin cấp ngày 30/7/2007
Trụ sở: Số 216 Trần Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: (04) 39369089 / Fax: (04) 38256588. Email: hoisuhocvietnam@yahoo.com.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Dương Trung Quốc
Mọi ý kiến phản hồi trên trang xin vui lòng gửi tại đây
Ghi rõ nguồn "Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này

Thiết kế website bởi Wecan-Group.com